Cây Lê

650,000

Mô tả

I. Giới thiệu về cây Lê

  • Tên thường gọi: Cây lê
  • Tên khoa học: Pyrus
  • Nguồn gốc xuất xứ: Lê là các loài cây bản địa của khu vực duyên hải và các khu vực có khí hậu ôn hòa, từ miền tây châu Âu và miền bắc châu Phi kéo dài về phía đông ngang qua châu Á
  • Tuổi thọ: Sống lâu năm
  • Màu sắc của hoa: Màu trắng
  • Gồm các loại cây: Các loài lê được phân loại trong phân tông Pyrinae trong phạm vi tông Pyreae

II. Đặc điểm của cây Lê

  • Kích thước: Chúng là các cây gỗ có kích thước vừa phải, cao tới 10–17 m, thường với tán lá cao và hẹp; một vài loài là dạng cây bụi.
  • Lá: Lá của cây lê mọc so le, lá đơn, dài 2–12 cm, màu xanh lục bóng ở một số loài, ở các loài khác có lông tơ màu trắng bạc mọc rậm; hình dáng lá từ hình ô van rộng bản tới hình mác hẹp. Phần lớn thuộc loại lá sớm rụng, nhưng 1-2 loài ở Đông Nam Á là thường xanh.

Phần lớn các loài chịu lạnh tốt, sống được khi nhiệt độ hạ xuống tới khoảng từ −25 °C tới −40 °C trong mùa đông, ngoại trừ các loài thường xanh, là các loài chỉ chịu được lạnh tới khoảng −15 °C.

  • Hoa: Hoa của cây lê thường màu trắng, hiếm khi nhuốm màu vàng hay hồng, đường kính 2–4 cm, và có 5 cánh hoa, 5 lá đài và nhiều nhị.
  • Quả: Giống như các loài táo tây có quan hệ họ hàng gần, quả lê là dạng quả táo, ở phần lớn các loài hoang dã có đường kính 1–4 cm, nhưng một số dạng gieo trồng thì chiều dài lên tới 18 cm và chiều rộng lên tới 8 cm; hình dáng quả thay đổi tùy theo loài, từ hình cầu dẹt tới hình cầu cho tới dạng quả lê kinh điển (‘hình lê’) của lê châu Âu với phần sát cuống thuôn dài và phần cuối quả dạng củ hành.

III. Tác dụng của cây Lê

1. Giá trị ẩm thực

Quả lê được tiêu thụ ở dạng quả tươi, đóng hộp, quả khô cũng như nước ép quả lê. Nước ép quả lê có thể dùng làm thạch hay mứt trái cây, thường được kết hợp với các loại trái quả khác. Nước trái lê lên men được dùng sản xuất rượu lê.

Lê dùng làm thực phẩm là lê xanh, khô và cứng, chỉ có thể ăn được sau vài giờ nấu nướng. Hai giống lê làm thực phẩm của Hà Lan là “Gieser Wildeman” và “Saint Remy”. Theo truyền thống quả của chúng được hầm trong rượu với gia vị và được ăn nóng lẫn ăn nguội.

2. Tác dụng chữa bệnh

Lê là nguồn cung cấp xơ dinh dưỡng tuyệt hảo và là nguồn cung cấp nhiều vitamin C. Phần lớn các chất xơ là không hòa tan và như thế lê có tác dụng nhuận tràng. Các sợi có sạn có thể làm giảm số lượng polip ruột kết có khả năng chuyển thành ung thư. Phần lớn vitamin C cũng như xơ dinh dưỡng nằm trong lớp vỏ quả.

Lê cũng được đánh giá là có hữu ích trong điều trị viêm nhiễm màng nhầy, viêm ruột kết, các rối loạn túi mật kinh niên, viêm khớp và bệnh gút. Lê cũng có thể có lợi trong việc hạ huyết áp cao, kiểm soát nồng độ cholesterol trong máu và tăng tính axít của nước tiểu. Tại Hy Lạp cổ đại, lê được dùng để điều trị nôn mửa.

3. Tác dụng khác

Gỗ lê là một trong những vật liệu được ưa chuộng nhất trong sản xuất các nhạc cụ hơi làm bằng gỗ có chất lượng cao cũng như làm đồ nội thất. Nó cũng được sử dụng trong sản xuất các đồ gỗ chạm khắc, hay dùng làm củi sinh ra khói có hương thơm để xông khói cho thịt hay thuốc lá.

Gỗ lê cũng có giá trị trong sản xuất thìa, muôi và que cời nhà bếp, do nó không làm ô nhiễm thức ăn bằng mùi vị, màu sắc và không bị cong vênh hay vỡ vụn mặc cho việc rửa ráy và sấy khô nhiều lần.

Bên cạnh đó, lá lê được sử dụng làm thuốc hút tại châu Âu trước khi có sự du nhập của thuốc lá.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Lê

1. Cách trồng cây

  • Nhân giống

Lê nên trồng bằng cây nhân giống bằng ghép mắt hay ghép cành. Gốc ghép thích hợp cho cây lê ăn quả là cây lê dại (Mắc coọt). Thời vụ ghép lê có thể quanh năm, trừ những tháng mưa nhiều. Tháng 4 – 5 cây gốc ghép nhỏ có thể ghép cành bên, tháng 8 – 9 cây gốc ghép lớn có thể ghép mắt và tháng 12 – 1 có thể ghép nêm.

  • Đất trồng, đào hố, bón lót

Lê có thể trồng ở nhiều loại đất, nhưng thích hợp nhất và cho năng suất cao ở đất mâù mỡ có độ ẩm ở ven đồi, khe núi.

Đào hố sâu 70 cm, rộng 70 cm, để đất mặt riêng lót xuống đáy hố.

Bón lót cho mỗi hố 20 – 30 kg phân hữu cơ + 0,2 – 0,5 kg supe lân + 0,5 -1,0 kg vôi bột. Trộn đều phân với lớp đất mặt đưa xuống đáy hố. Lấp đất đầy hố trước khi trồng 15 – 30 ngày, đợi thời tiết tốt sẽ trồng cây. Nếu đất có nhiều mối phải tiến hành xử lý diệt mối trước khi trồng.

  • Mật độ, khoảng cách

Lê trồng với khoảng cách: cây cách cây 5 m. Mật độ 400 cây/ha. Nên trồng xen 5 – 10% các giống lê khác giống để tăng cường thụ phấn tự nhiêncho lê.

  • Thời vụ

Ở miền núi nên trồng cây vào vụ Xuân tháng 2, tháng 3 khi đã có mưa ẩm và cây chưa lên lá, lộc non để có tỷ lệ sống cao.

  • Cách trồng và chăm sóc

Khi thời tiết thuận lợi thì đưa cây ra trồng, moi một hốc ở chính giữa hố, đặt cây vào hốc theo thế tự nhiên, lấp đất. (Chú ý không lấp kín vết ghép). Dùng rơm, rạ hoặc cỏ khô tủ vào gốc để giữ ẩm cho cây. Tưới 10 – 15 lít nước cho mỗi gốc.

Sau trồng khoảng 1 – 2 tháng (khi cây đã bén rễ, hồi xanh) có thể dùng nước giải, nước phân lợn pha loãng theo tỉ lệ 1/10, cách gốc 50 – 60 cm.

Trồng bằng cây ghép chú ý loại bỏ các mầm mọc từ phía dưới mắt ghép, vì đó làmầm của gốc ghép, mọc ra cây lê dại, quả nhỏ.

2. Cách chăm sóc cây

  • Lượng phân bón

Sau trồng 2 – 3 năm cây đã có thể cho thu hoạch quả, tùy theo sinh trưởng và thu hoạch quả mà hàng năm có thể bón lượng phân cho một cây lượng phân như sau:

Thời kỳ kiến thiết cơ bản (3 năm đầu): Mỗi năm bón cho 1 cây: 20- 30 kg phân hữu cơ + 0,5 kg đạm urê + 1,0 kg phân super lân + 0,5 kg phân ka ly và 1,0 kg vôi bột.

Thời kỳ kinh doanh: mỗi năm bón cho 1 cây: 30 – 40 kg phân hữu cơ + 0,7-1,0 kg đạm urê + 1,5 – 2,0 kg phân supe lân + 0,7 – 1,0 kg phân ka ly và 1,0 kg vôi bột.

  • Thời gian bón

Lần 1: Bón nuôi lộc Xuân, nuôi hoa vào tháng 2 – 3: phân đạm 50% và phân ka ly 30%.

Lần 2: Bón nuôi quả và lộc Thu từ tháng 4 đầu tháng 6 (chia phân làm 2 – 3 lần): phân đạm 50% và phân ka ly 40%.

Lần 3: Bón phục hồi sau khi thu hoạch quả vào tháng 10, tháng 11: Bón toàn bộ phân hữu cơ + vôi + phân lân và phân ka ly 30%.

  • Cách bón

Phân hữu cơ, vôi, phân lân đào rãnh xung quanh tán cây sâu 20 cm, rộng 15 – 20cm, bón phân lấp đất. Phân đạm và ka ly nếu đất khô thì hoà nước tưới, nếu đất ẩm thì rắc phân xuống đất xung quanh tán xới nhẹ lấp đất kín phân để tránh bốc hơi và rửa trôi phân bón.

  • Tưới nước, giữ ẩm, làm cỏ

Cây lê rất cần đến nước nhất là giai đoạn cây mới trồng cây và thời gian khô hạn kéo dài. Sau trồng, tuỳ tình hình thời tiết 2 tháng đầu tiến hành tưới nước cho đủ ẩm đất.

Thời kỳ mang quả, cây cần nước để nuôi quả, cần tủ gốc giữ ẩm và tùy theo thời tiết từng năm để điều chỉnh số lần tưới.

Cần tiến hành làm cỏ thường xuyên để tránh cạnh tranh dinh dưỡng với cây lê, đồng thời không để chỗ cho sâu, bệnh trú ngụ.

  • Làm khung giàn cố định tán

Đây là khâu kỹ thuật quan trọng để quyết định đến năng suất quả. Nếu có điều kiện thì đầu tư hệ thống khung giàn làm bằng cột bê tông, cốt thép có ɸ = 15 – 20 cm, cột cao 2,0 m, đáy có đổ đế bằng bê tông sâu 40 cm. Các cột được chôn sâu 40 cm giữa các hàng cây với khoảng cách 3 – 4 m. (hoặc ống kẽm ɸ = 32 mm). Phía trên giàn hàn toàn bộ khung bằng đường ống kẽm ɸ = 20 mm, căng toàn bộ giàn bằng thép 6 mm, khoảng cách 50 – 60 cm một dây.

Nếu không có điều kiện thì vin uốn cành bằng cách dùng dây ni lông buộc cố định một đầu vào cành, uốn cành theo vị trí mong muốn và đầu dây còn lại buộc vào gốc hoặc ghim xuống đất.

  • Kỹ thuật vin cành

Vào năm thứ 2 sau trồng chọn 3 – 4 cành cấp 1 để tạo bộ khung tán, mỗi cành cấp 1 để lại 2 – 3 cành cấp 2, vin cành tạo tán theo khung giàn đã được định hình, hoặc vin cành bằng dây néo 75 độ vào gốc. Vin cành vào cuối tháng 10 đầu tháng 11 khi cây vừa rụng lá. Khi vin cành, vặn cành hơi xoay nhẹ không để bị gãy hoặc dập cành.

Hàng năm cần cắt tỉa các cành mọc không đúng chỗ, tỉa các cành la, cành tăm để tập trung dinh dưỡng.

  • Kỹ thuật bọc quả

Để quả lê có mẫu mã đẹp, hạn chế sâu bệnh đặc biệt là ruồi đục quả nên sử dụng túi bọc quả chuyên dụng để bọc quả. Bọc khi quả có đường kính 3 – 5 cm (tức là sau khi đậu quả 40 – 50 ngày). Dùng túi bọc quả chuyên dùng, lồng vào quả sau đó dùng ghim dập định vị túi bọc vào quả ở trên cành.

  • Kỹ thuật ghép chồi hoa

Lê là cây ăn quả ôn đới điển hình, phải trồng ở những nơi có đủ độ lạnh cây mới phân hóa mầm hoa và ra quả. Để sản xuất lê ở các vùng thấp, nơi có điều kiện nhiệt độ cao có thể áp dụng kỹ thuật sử dụng các chồi hoa lê đã được phân hóa mầm hoa ở vùng có khí hậu lạnh và ghép vào gốc ghép cây lê để cây có thể ra hoa, kết quả và cho thu hoạch. Công nghệ mới này đã được áp dụng đối với sản xuất lê công nghệ cao ở Đài Loan, Hàn Quốc, Trung Quốc và Nhật Bản.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Cây Lê”