Cây Bầu

230,000

Mô tả

I. Giới thiệu về cây Bầu

  • Tên thường gọi: Cây bầu
  • Tên gọi khác: Cây bầu nậm, cây bầu đất, cây bầu canh
  • Tên khoa học: Lagenaria siceraria 
  • Họ thực vật: Thuộc họ bầu bí (Cururbitaceae)
  • Nơi sống: Ngày nay cây bầu được trồng rộng rãi ở các nước vùng nhiệt đới và á nhiệt đới trên toàn thế giới.
  • Nguồn gốc xuất xứ: Cây bầu có nguồn gốc Châu Phi và Ấn Độ
  • Tuổi thọ: Là loại cây hằng niên
  • Màu sắc của hoa: Màu trắng
  • Gồm các loại cây: Hiện nay, có nhiều giống bầu nhưng chủ yếu có 4 loại: bầu thước, bầu sao, bầu trắng và bầu thúng

II. Đặc điểm của cây Bầu

  • Hình dáng bên ngoài: Là cây dây leo thân thảo có tua cuốn phân nhánh, phủ nhiều lông mềm màu trắng.
  • Lá: Lá cây bầu có hình tim rộng, không xẻ thùy hoặc xẻ thùy rộng, có lông mịn như nhung màu trắng. 
  • Hoa: Hoa đơn tính cùng gốc, to, màu trắng, có cuống hoa dài tới 20cm.
  • Quả: Quả bầu mọng màu xanh dợt hay đậm, có hình dạng khác nhau hoặc tròn, dài thẳng hoặc thắt eo, vỏ già cứng hoá gỗ, thịt trắng. Hạt trắng, dài 1,5 cm.
  • Rễ: Bộ rễ của cây bầu rất phát triển, ăn lan rộng, có khả năng ra nhiều rễ bất định ở đốt.

III. Tác dụng của cây Bầu

  • Tác dụng trong kinh tế:

Bầu là loại cây cho quả khá quên thuộc với mỗi chúng ta và là món ăn không thể thiếu vào mỗi mùa hè. Với những công dụng tuyệt vời và lợi ích mà cây bầu đem lại, người ta thường trồng những giàn bầu lớn để thu trái đem bán, mang lại giá trị kinh tế cho bản thân và gia đình.

  • Tác dụng chữa bệnh:

Thịt quả bầu vị ngọt, tính hàn, có tác dụng giải nhiệt, trừ độc, được dùng trị chứng đái rắt, phù nề, đái tháo, mụn lở… Vỏ bầu vị ngọt, tính bình, lợi tiểu, tiêu thũng nên cũng được dùng cho các chứng bệnh phù thũng, bụng chướng. Hạt bầu đun lấy nước súc miệng chữa bệnh sưng mộng răng, lợi răng lung lay, tụt lợi.

Lá bầu có vị ngọt, tính bình có thể làm thức ăn chống đói. Tua cuốn và hoa bầu có tác dụng giải thải nhiệt độc, nấu tắm cho trẻ em phòng ngừa đậu, sởi, lở ngứa. Quả bầu già sắc lấy nước uống có tác dụng lợi tiểu, chữa bệnh phổi phù nước…

  • Tác dụng khác:

Bầu ngày nay được trồng phổ biến ở các vùng nóng trên thế giới. Bầu là món ăn phổ biến của nhiều người, thường sử dụng thịt quả để chế biến thành các món như luộc, nấu canh, xào.Trong đó, bầu luộc ăn mát lại trị được bón kết, nước luộc bầu uống rất mát và thông đường tiểu tiện… Lá non cũng có thể luộc để làm rau ăn.

Với nguồn dưỡng chất dồi dào, bầu không chỉ là thức ăn, là thuốc chữa bệnh mà còn giúp giảm cân, làm đẹp da. Bầu chứa lượng calo rất thấp nhưng lại giàu vitamin B6, B3 và vitamin C, kali và sắt. Bầu luộc hay nước ép bầu được ví như làm một bữa ăn hoàn chỉnh. Điều này giúp bạn ngăn chặn sự thèm ăn.

Nước bầu có chứa các vitamin thiết yếu khôi phục lại sức sống cho làn da. Nó giúp trẻ hóa tế bào da thậm chí còn điều tiết sản xuất dầu ngăn chặn mụn phát triển. Với những trẻ bị ngứa, rôm sảy có thể lấy hoa và tua cuốn của bầu đun làm nước tắm.

IV. Cách trồng và chăm sóc cây Bầu

1. Cách trồng cây

Bầu trồng được quanh năm, mùa nắng cho trái nhiều hơn mùa mưa. Bầu phát triển thuận lợi khi gieo trồng từ tháng 11 đến tháng 1 dương lịch. Hạt bầu cần nhiệt độ cao và ẩm độ đầy đủ để nẩy mầm.

Người trồng nên ngâm hạt từ 10 – 12 giờ, sau đó gói ủ hạt trong tro hay cát nóng từ 4 – 5 ngày cho nẩy mầm. Bà con gieo hạt nẩy mầm vào bầu đất chăm sóc cho đến khi cây có 2 lá thật mới đem trồng. Ngoài ra, người dân cũng có thể gieo thẳng hạt ngoài đồng, mỗi lỗ từ 3 – 4 hạt, đào hốc có kích thước 50 x 50 x 30 cm, hốc cách nhau 1m, bón nhiều phân chuồng hay phân cỏ hoai mục và khoảng 100 g phân hỗn hợp NPK cho mỗi hốc trước khi trồng.

2. Cách chăm sóc cây

Bầu cần nhiều nước, do đóphải tưới thường xuyên 1 – 2 lần/ngày cho cây đủ ẩm. Lượng nước tưới cần gia tăng khi bầu mang trái. Giai đoạn tăng trưởng kéo dài kể từ khi trồng đến khi bầu lên giàn (60 ngày sau khi trồng), người dân cần bón thúc thường xuyên mỗi tuần một lần để chuẩn bị cơ sở vật chất cho cây ra hoa kết trái.

Giai đoạn ra hoa, đậu trái, cây cần được bón thúc nuôi trái 7-10 ngày một lần với lượng phân gia tăng dần để trái to và nhiều trái. Trong suốt thời gian canh tác (130 – 140 ngày) mỗi hốc nên được bón từ 1 – 1,5 kg phân hỗn hợp NPK.

Khi bầu mọc dài được 1m, bà con bắt đầu khoanh dây vòng gốc, lấy đất chặn lên ngay đốt, cách 1 – 2 đốt lại chặn đất để tranh thủ cho bầu ra rễ bất định, tăng khả năng thu hút dinh dưỡng nuôi trái sau này. Trồng được 2 tháng người dân mới nên nương dây cho bầu leo giàn, cần để dây ở thế tự nhiên, không lật úp hay xoắn dây. Nên làm giàn bằng để bầu đủ diện tích bò, bầu vừa lên giàn là có thể trổ hoa đậu trái. Từ 75 – 90 ngày sau khi trồng, bầu bắt đầu cho thu hoạch.

Bầu ra nhiều dây nhánh và mang trái ở dây nhánh. Các dây nhánh ở đoạn thân từ gốc lên đến giàn nên tỉa bỏ để gốc được thoáng. Khi bầu lên giàn, người trồng không nên tỉa để dây nhánh cho trái. Khi đã lấy được trái trên nhánh, người dân nên bấm ngọn để trái phát triển lớn và bầu tiếp tục cho trái ở dây nhánh khác.

Sâu hại bầu gồm ruồi đục lòn lá (Lyriomyza spp.), rầy mềm (Aphis sp.), bọ rầy dưa (Aulacophora similis). Bởi vậy cần nhanh chóng phun thuốc khi thấy các côn trùng này xuất hiện.

Bệnh gây hại cho bầu thường gặp như bệnh héo cây con do nấm Rhizoctonia solani, bệnh khảm do virus, bệnh thán thư do nấm Colletotrichum lagenarium trong mùa mưa và bệnh phấn trắng do nấm Sphaerotheca fuliginea trong mùa khô. Trong thực tế do diện tích trồng ít, giá trị kinh tế của bầu không cao, nông dân có thể không phun ngừa thuốc trị bệnh, chỉ nhổ bỏ cây bệnh hay ngắt bỏ lá bệnh nếu có.

Đánh giá

Chưa có đánh giá nào.

Hãy là người đầu tiên nhận xét “Cây Bầu”